PHẬT GIÁO VÀ CẢM XÚC. Tính không có nghĩa là gì trong Phật giáo hiện đại? Thuật ngữ này vừa phức tạp vừa ảo tưởng hơn so với cái nhìn đầu tiên. Tính không, hay Sunyata, không ám chỉ trạng thái hư vô đơn giản. Hư vô là một trạng thái mà chúng ta có thể dễ dàng hình dung ra. Tính không không thể được hình dung và không có nguồn gốc, điều này tạo ra một nghịch lý ngôn ngữ rằng từ "trống không" không bao giờ được gắn trực tiếp vào tham chiếu của nó, mà là chỉ ra ngoài từ mà nó đề cập đến. Sự thể hiện đầy đủ nhất của học thuyết về tính không được tìm thấy trong Tâm Kinh và là trọng tâm của việc thực hành Phật giáo trên khắp thế giới. Về mặt học thuyết, tính không có thể là một đặc điểm của thực tại, một trạng thái thiền định, hoặc một phân tích hiện tượng học của kinh nghiệm. Tánh không như một đặc điểm của thực tại Phật giáo dạy rằng thế giới của các hình thức là huyễn hoặc. Ngoài thế giới của các hình thức và bên trong nó, thực tại là sự trống rỗng, không thể hiểu như một khái niệm, cũng không thể mô tả nó bằng lời. Tính không nằm ngoài tầm hiểu biết nhận thức của con người nhưng đôi khi có thể tiếp cận được trong lúc thiền định hoặc khi thức tỉnh. Đôi khi được mô tả như một Void sáng chói, sự trống rỗng không phải là nguồn gốc của thực tại, mà là một phần của cấu trúc cơ bản của thực tại. Sự trống rỗng như một trạng thái thiền định Trong cuốn sách The Snow Leopard (1987), Peter Matthiessen mô tả việc ngồi trên những tảng đá cứng ở dãy Himalaya và trải qua cảm giác trống rỗng hoặc hư vô ở trung tâm của sự tồn tại phi thường: "Những tảng đá cứng này chỉ dẫn cho xương của tôi điều mà bộ não của tôi không bao giờ có được Hãy nắm bắt trong Tâm Kinh, rằng 'hình thức là tính không và tính không là hình thức' - Hư Không, sự trống rỗng của không gian xanh đen, chứa đựng trong mọi thứ. " Mặc dù Matthiessen ở đây dường như định nghĩa tính không là "không gian màu xanh đen chứa đựng trong mọi thứ", nhưng câu trích dẫn chỉ ra điều này cho sự hiểu biết của anh ấy thông qua kinh nghiệm, chứ không phải nhận thức, về ý nghĩa của lời tuyên bố của Heart Sutra rằng "hình thức là tính không và tính không là hình thức." Nói cách khác, tính không có thể được tiếp cận thông qua kinh nghiệm thức tỉnh, nhưng không bao giờ có thể được khái niệm hóa. Tính không như một phân tích hiện tượng của trải nghiệm Hoa sen minh họa một cách tượng trưng cho học thuyết Phật giáo về tính không như một phân tích kinh nghiệm. Nổi giữa không khí và nước phản chiếu, bông hoa nhiều cánh tượng trưng cho bản chất liên kết của tất cả các dạng trong thế giới vật chất. Hãy tưởng tượng những đám mây lơ lửng trong không khí phản chiếu trong làn nước sáng lấp lánh và bông hoa lơ lửng ở giữa. Đây là "viên ngọc trong hoa sen," kinh nghiệm thiền định của cả hình thức và tính không chứa trong nhau. Biểu tượng này được diễn đạt bằng lời trong thánh ca là Om Mani Padme Hum. Om đại diện cho âm thanh của vũ trụ theo đạo Hindu. Mani có nghĩa là viên ngọc quý. Padme có nghĩa là hoa. Và Hum là sự Khai sáng. Làm thế nào để trống rỗng thông báo cho thực hành của bạn? Giáo lý Phật giáo về tính không mời gọi chúng ta chuyển việc thực hành của mình vượt ra ngoài các khái niệm và các cuộc thảo luận trí tuệ vào một nơi yên tĩnh sâu thẳm, vào vùng nước tĩnh lặng của chính chúng ta, nơi mà sau đó có thể đánh thức trong mỗi chúng ta nhận thức về tính không trong mọi sự vật. Biểu tượng này được diễn đạt bằng lời trong thánh ca là Om Mani Padme Hum. Om đại diện cho âm thanh của vũ trụ theo đạo Hindu. Mani có nghĩa là viên ngọc quý. Padme có nghĩa là hoa. Và Hum là sự Khai sáng. Làm thế nào để trống rỗng thông báo cho thực hành của bạn? Giáo lý Phật giáo về tính không mời gọi chúng ta chuyển việc thực hành của mình vượt ra ngoài các khái niệm và các cuộc thảo luận trí tuệ vào một nơi yên tĩnh sâu thẳm, vào vùng nước tĩnh lặng của chính chúng ta, nơi mà sau đó có thể đánh thức trong mỗi chúng ta nhận thức về tính không trong mọi sự vật. Biểu tượng này được diễn đạt bằng lời trong thánh ca là Om Mani Padme Hum. Om đại diện cho âm thanh của vũ trụ theo đạo Hindu. Mani có nghĩa là viên ngọc quý. Padme có nghĩa là hoa. Và Hum là sự Khai sáng. Làm thế nào để trống rỗng thông báo cho thực hành của bạn? Giáo lý Phật giáo về tính không mời gọi chúng ta chuyển việc thực hành của mình vượt ra ngoài các khái niệm và các cuộc thảo luận trí tuệ vào một nơi yên tĩnh sâu thẳm, vào vùng nước tĩnh lặng của chính chúng ta, nơi mà sau đó có thể đánh thức trong mỗi chúng ta nhận thức về tính không trong mọi sự vật. Làm thế nào để trống rỗng thông báo cho thực hành của bạn? Giáo lý Phật giáo về tính không mời gọi chúng ta chuyển việc thực hành của mình vượt ra ngoài các khái niệm và các cuộc thảo luận trí tuệ vào một nơi yên tĩnh sâu thẳm, vào vùng nước tĩnh lặng của chính chúng ta, nơi mà sau đó có thể đánh thức trong mỗi chúng ta nhận thức về tính không trong mọi sự vật. Làm thế nào để trống rỗng thông báo cho thực hành của bạn? Giáo lý Phật giáo về tính không mời gọi chúng ta chuyển việc thực hành của mình vượt ra ngoài các khái niệm và các cuộc thảo luận trí tuệ vào một nơi yên tĩnh sâu thẳm, vào vùng nước tĩnh lặng của chính chúng ta, nơi mà sau đó có thể đánh thức trong mỗi chúng ta nhận thức về tính không trong mọi sự vật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.20/2/2022.CHUYEN NGU TIENG ANH QUA TIENG VIET=THICH NU CHAN TANH.
The Origins of Buddhism. Buddhism, founded in the late 6th century B.C.E.by Siddhartha Gautama (the "Buddha"), is an important religion in most of the countries of Asia. Buddhism has assumed many different forms, but in each case there has been an attempt to draw from the life experiences of the Buddha, his teachings, and the "spirit" or "essence" of his teachings (called dhamma or dharma) as models for the religious life. However, not until the writing of the Buaciha Charija (life of the Buddha) by Ashvaghosa in the 1st or 2nd century C.E. do we have a comprehensive account of his life. The Buddha was born in North India (ca. 563 B.C.E.) at a place called Lumbini near the Himalayan foothills, and he began teach in around Benares (at Sarnath). His era in general was one of spiritual, intellectual, and social ferment. This was the age when the Hindu ideal of renunciation of family and social life by holy persons seeking Truth first became widespread. Siddha...
Comments
Post a Comment