Niết bàn là một khái niệm được dệt sâu trong hệ thống tín ngưỡng Phật giáo. Thuật ngữ này dịch từ tiếng Phạn có nghĩa là "dập tắt." Mặc dù điều đó nghe có vẻ như một trạng thái tiêu cực, nhưng nó thực sự rất tích cực. Trong Phật giáo, thuật ngữ này có nghĩa là dập tắt hận thù, vô minh và đau khổ. Truyền thuyết về cuộc tìm kiếm giác ngộ của Siddhartha kể về cuộc hành trình của Siddhartha Gautama, người đã trở thành Phật hay "Người thức tỉnh." Sau khi sống theo lối sống giàu có, được nuông chiều, Siddhartha quyết định bỏ lại sự giàu có và khám phá bản chất thực sự của một sự tồn tại không có sự ràng buộc về vật chất. Anh lang thang như một shramana vô gia cư, sống giản dị và cống hiến cho thiền định. Ngay cả khi đã đẩy lối sống vật chất ngày càng xa, Siddhartha vẫn chưa đạt được giác ngộ. Nhận ra rằng sự chết đói sẽ đến với anh ta nếu anh ta không chọn một con đường khác, thay vào đó, ông quyết định lấy Con đường Trung đạo làm trọng tâm của mình. Điều này có nghĩa là một cuộc sống được cân bằng cẩn thận giữa sự cám dỗ của sự giàu có và sự nguy hiểm của nghèo đói. Truyền thuyết kể rằng ngay sau sự thay đổi này, Siddhartha đã có thể quan sát tiền kiếp của mình cũng như tiền kiếp của những người khác. Điều này cuối cùng cho phép anh ta có được kiến thức hoàn hảo và niết bàn. Niết bàn trong cuộc sống Có hai loại niết bàn hướng dẫn con đường của linh hồn. Niết bàn đạt được trong cuộc sống mô tả sự tự do khỏi ham muốn, vô minh và ghét bỏ. Trong trạng thái này, cá nhân sẽ không còn tạo ra nghiệp nữa, tuy nhiên họ vẫn sẽ sở hữu phần còn lại của nghiệp đã tích lũy trước đó ở dạng vật chất hiện tại của họ. Cá nhân không miễn nhiễm với những đau đớn trần gian và sẽ tiếp tục trải qua nghiệp của họ là bệnh tật, lão hóa và cái chết. Đây là một cách giải quyết bất kỳ nghiệp xấu nào mà cá nhân đã tích lũy. Niết bàn trong cái chết Khi cơ thể vật lý chết đi, loại niết bàn tiếp theo sẽ đạt được. Đây là niết bàn cuối cùng mà linh hồn nhập vào sau khi thoát khỏi sự đau khổ của thể xác trần gian. Sau khi chết, những ảnh hưởng của nghiệp tích lũy không còn được cảm nhận nữa. Đạo Phật dạy rằng hành động của kiếp trước sẽ không chuyển sang kiếp sau, tuy nhiên nó có tác động. Trong khi không có gì thực sự mang lại, động lượng được cảm nhận. Một khi một người giải phóng được bản thân khỏi những ràng buộc của vô minh, ham muốn, ghen tị và của cải vật chất, họ sẽ đạt đến trạng thái phúc lạc thức tỉnh và không còn phải quay lại vòng luân hồi nữa. Tại thời điểm này, tất cả các món nợ nghiệp của họ được coi là đã trả đầy đủ và họ đạt được trạng thái tối thượng trong Phật giáo:HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.20/2/2022.CHUYEN NGU TIENG ANH QUA TIENG VIET.THICH NU CHAN TANH.
The Origins of Buddhism. Buddhism, founded in the late 6th century B.C.E.by Siddhartha Gautama (the "Buddha"), is an important religion in most of the countries of Asia. Buddhism has assumed many different forms, but in each case there has been an attempt to draw from the life experiences of the Buddha, his teachings, and the "spirit" or "essence" of his teachings (called dhamma or dharma) as models for the religious life. However, not until the writing of the Buaciha Charija (life of the Buddha) by Ashvaghosa in the 1st or 2nd century C.E. do we have a comprehensive account of his life. The Buddha was born in North India (ca. 563 B.C.E.) at a place called Lumbini near the Himalayan foothills, and he began teach in around Benares (at Sarnath). His era in general was one of spiritual, intellectual, and social ferment. This was the age when the Hindu ideal of renunciation of family and social life by holy persons seeking Truth first became widespread. Siddha...
Comments
Post a Comment